Ba yếu tố then chốt trong mô hình tăng trưởng nông nghiệp mới

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2025 ước đạt 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với năm trước. Trong đó, nông sản đạt 37,25 tỷ USD, lâm sản đạt 18,5 tỷ USD và thủy sản đạt 11,32 tỷ USD. Xuất khẩu sang nhiều thị trường tiếp tục mở rộng, đặc biệt là châu Âu tăng trên 34% và châu Phi tăng hơn 68%.
Dù vậy, cơ cấu xuất khẩu cho thấy sự phân hóa rõ nét khi một số mặt hàng chủ lực như gạo, cao su, chè giảm cả về sản lượng và giá trị do biến động giá toàn cầu. Thực tế này cho thấy tăng trưởng hiện nay vẫn thiên về quy mô, trong khi yêu cầu nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và tính bền vững ngày càng rõ ràng.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến, năm 2026 được xác định là năm bản lề, đặt nền móng cho giai đoạn phát triển mới của ngành. Trọng tâm là tái cơ cấu sản xuất và xuất khẩu theo chuỗi giá trị, đáp ứng chặt chẽ các tiêu chuẩn thị trường quốc tế.
Trong bối cảnh các thị trường lớn như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, môi trường và phát thải carbon, mã số vùng trồng, vùng nuôi cùng hệ thống truy xuất nguồn gốc minh bạch đang trở thành điều kiện bắt buộc đối với nông sản xuất khẩu.

Từ góc nhìn doanh nghiệp, bà Đỗ Thị Phương Thảo – Giám đốc chuỗi cung ứng Lenger Việt Nam – cho rằng các hiệp định thương mại tự do mang lại lợi thế về thuế quan, song doanh nghiệp cũng đối mặt với nhiều thách thức như chi phí logistics tăng cao, biến động nhu cầu và cạnh tranh ngày càng gay gắt. Do đó, đầu tư vào chuỗi cung ứng khép kín, áp dụng tiêu chuẩn quốc tế và đẩy mạnh chế biến sâu là hướng đi tất yếu để duy trì thị trường và gia tăng giá trị.
Theo định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, để hướng tới mục tiêu xuất khẩu 73–74 tỷ USD trong năm 2026, ngành nông nghiệp tập trung phát triển chuỗi giá trị dựa trên ba trụ cột. Thứ nhất là chuẩn hóa đầu vào và truy xuất nguồn gốc thông qua mở rộng mã số vùng trồng, vùng nuôi và áp dụng các tiêu chuẩn phù hợp. Thứ hai là thúc đẩy chế biến sâu gắn với kinh tế tuần hoàn, chuyển mạnh từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang sản phẩm tinh chế, tiện lợi. Thứ ba là phát triển hạ tầng logistics xanh, đặc biệt là chuỗi lạnh và trung tâm logistics vùng, nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch, giảm phát thải và nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông sản Việt Nam.
Nguồn: Tiếng Nói Việt Nam
Tin nổi bật

Mở rộng kết nối hàng không Việt Nam – Ấn Độ, đẩy mạnh hợp tác hạ tầng giao thông
Việt Nam và Ấn Độ đang hướng tới việc gia tăng tần suất khai thác các chuyến bay, đồng thời mở thêm đường bay thẳng mới từ hãng hàng không quốc gia Ấn Độ tới Hà Nội. Song song đó, hai bên cũng thúc đẩy hợp tác sâu rộng trong lĩnh vực hạ tầng giao thông và logistics.

Tp. Hồ Chí Minh xem xét miễn vé xe buýt diện rộng, đề xuất miễn phí hạ tầng cảng biển
Tp. Hồ Chí Minh đang xem xét triển khai hai chính sách lớn gồm miễn vé 135 tuyến xe buýt và miễn phí hạ tầng cảng biển nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy giao thông công cộng và giảm áp lực chi phí logistics.

Vai trò chiến lược của logistics trong phục hồi doanh nghiệp công nghệ
Báo cáo của DP World cho thấy gián đoạn logistics đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến các doanh nghiệp công nghệ, buộc họ phải nâng chuỗi cung ứng thành ưu tiên chiến lược nhằm bảo vệ hoạt động và uy tín thương hiệu.

Tp. Hồ Chí Minh thúc đẩy đột phá hạ tầng, nâng cao năng lực cạnh tranh trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Tp. Hồ Chí Minh đang tăng tốc đầu tư hạ tầng giao thông và logistics nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển bền vững. Với sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp quốc tế, đặc biệt là Pháp, thành phố hướng tới xây dựng đô thị xanh, hiện đại và hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.






.jpg)