Tp. Hồ Chí Minh hướng tới hệ sinh thái cảng biển xanh, thông minh
Trọng tâm phát triển gồm hoàn thiện hạ tầng kết nối, thúc đẩy chuyển đổi xanh, ứng dụng công nghệ trong quản lý cảng và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.

Đến năm 2030, hàng qua cảng có thể đạt hơn 512 triệu tấn
Không gian cảng biển Tp. Hồ Chí Minh hiện không chỉ gồm Cát Lái, Hiệp Phước và Nhà Bè mà còn kết nối với hệ thống cảng sông khu vực Bình Dương và cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải.
Sự liên kết này tạo điều kiện tổ chức lại luồng hàng, kết nối trực tiếp các trung tâm sản xuất với cảng biển và hình thành mạng lưới logistics liên vùng.
Tại Đối thoại Hữu nghị Tp. Hồ Chí Minh năm 2026 diễn ra tại phường Vũng Tàu từ ngày 10 đến 12/9, ông Bùi Hòa An, Phó Giám đốc Sở Xây dựng Tp. Hồ Chí Minh, cho biết đến năm 2030:
- Hàng hóa qua hệ thống cảng biển dự kiến đạt 463,4 - 512,5 triệu tấn.
- Sản lượng container đạt khoảng 29,63 - 33,16 triệu TEU, chưa tính hàng trung chuyển quốc tế.
- Hành khách qua cảng dự kiến đạt 3 - 3,3 triệu lượt.
Với quy mô này, Tp. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu nâng cao vị thế trong mạng lưới cảng biển và logistics của khu vực.
Ba hướng phát triển cảng biển Tp. Hồ Chí Minh
Trước hết là đầu tư hạ tầng cảng và hệ thống giao thông kết nối cảng với trung tâm logistics, khu công nghiệp và vùng sản xuất. Việc kết nối đồng bộ đường bộ, đường thủy nội địa và đường sắt được kỳ vọng giúp giảm chi phí vận chuyển, rút ngắn thời gian lưu thông hàng hóa và thu hút thêm các tuyến tàu quốc tế.
Song song đó, Tp. Hồ Chí Minh sẽ thúc đẩy phát triển cảng xanh, cảng thông minh và vận tải thủy, tăng tự động hóa, sử dụng năng lượng sạch và từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn phát thải của chuỗi cung ứng quốc tế.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là xây dựng các cơ chế tạo thuận lợi thương mại như khu thương mại tự do, cảng mở, số hóa thủ tục và tăng chia sẻ dữ liệu giữa các đơn vị liên quan.
Cảng xanh không chỉ giảm phát thải
Kinh nghiệm từ Cảng Tokyo cho thấy chuyển đổi xanh phải đi cùng nâng cao hiệu quả khai thác.
Ông Tomohide Sato, Phó Thống đốc vùng Tokyo, cho biết Cảng Tokyo đặt mục tiêu giảm 50% phát thải CO₂ vào năm 2030 so với năm 2000, giảm 60% vào năm 2035 và đạt trung hòa carbon vào năm 2050.
Năm 2025, cảng Tokyo xử lý khoảng 4,27 triệu TEU, tương đương gần một phần tư lượng container quốc tế của Nhật Bản. Từ năm 2024, toàn bộ các bến container tại đây đã hoàn tất chuyển đổi sang sử dụng điện xanh.
Tokyo cũng đang thay thế dần thiết bị chạy diesel bằng thiết bị sử dụng hydro, triển khai tàu chạy pin nhiên liệu hydro và các hệ thống điện mặt trời.
Dự án tái phát triển bến container Oi đến năm 2035 còn bao gồm thiết bị xếp dỡ hiện đại, hệ thống đặt lịch xe container, số hóa thủ tục và ứng dụng AI trong vận hành. Cảng cũng dự kiến bổ sung hệ thống cấp điện từ bờ để tàu không phải duy trì động cơ khi neo đậu.
Mô hình này cho thấy một cảng xanh chỉ thực sự hiệu quả khi vừa giảm phát thải, vừa giảm ùn tắc, rút ngắn thời gian xử lý hàng và nâng cao năng suất khai thác.

Ông Tomohide Sato, Phó Thống đốc vùng Tokyo, chia sẻ kinh nghiệm phát triển cảng xanh, cảng thông minh tại sự kiện (Nguồn: Tiến Dũng - Pháp Luật Việt Nam)
Cạnh tranh sẽ diễn ra giữa các hệ sinh thái logistics
Theo bà Ngô Thị Thanh Vy, Tổng Giám đốc Công ty CP Cảng quốc tế QTM, cạnh tranh trong tương lai không còn chỉ là cuộc đua giữa từng cảng riêng lẻ mà giữa các hệ sinh thái logistics.
Vì vậy, xây dựng cảng thông minh không nên bắt đầu từ việc lựa chọn công nghệ, mà phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của khách hàng như thời gian chờ tàu, khả năng theo dõi hàng hóa, chi phí vận chuyển và thủ tục.
Đối với dự án cảng mới tại khu vực Cái Mép - Thị Vải, doanh nghiệp định hướng chuẩn bị đồng thời hạ tầng, công nghệ, thị trường, khách hàng và mạng lưới đối tác quốc tế ngay từ giai đoạn đầu tư.
Bà Đặng Minh Phương, Chủ tịch Hiệp hội Logistics và Cảng biển Tp. Hồ Chí Minh, cho biết Tp. Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam hiện đảm nhận hơn 65% sản lượng container xuất nhập khẩu của cả nước, với khoảng 18 triệu TEU hàng hóa qua hệ thống cảng.
Theo bà Phương, dòng hàng hóa không bị giới hạn bởi địa giới hành chính. Vì vậy, logistics cần được tổ chức trên cơ sở liên kết vùng, vận tải đa phương thức và phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, doanh nghiệp, cảng biển và các trung tâm sản xuất.
Việc kết hợp nguồn hàng lớn với hạ tầng hiện đại, công nghệ số, năng lượng sạch và chính sách thuận lợi cho thương mại sẽ là nền tảng để Tp. Hồ Chí Minh xây dựng hệ sinh thái cảng biển xanh, thông minh và có sức cạnh tranh quốc tế.
Nguồn: Pháp Luật Việt Nam
Tin nổi bật

LOGISTICS XANH: ĐỘNG LỰC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu ngày càng chú trọng phát triển bền vững, logistics xanh đang trở thành một trong những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp Việt Nam tối ưu chi phí, nâng cao hiệu quả vận hành và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Mở rộng mạng lưới phân phối, tạo thêm dư địa cho xuất khẩu Việt Nam
Kết nối thị trường trong nước với hệ thống phân phối quốc tế, thương mại điện tử xuyên biên giới và logistics đang được xem là hướng quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam mở rộng xuất khẩu, giảm phụ thuộc vào một số thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Việt Nam - Bỉ mở rộng hợp tác, thúc đẩy các lĩnh vực mới
Chuyến thăm chính thức Vương quốc Bỉ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân, theo lời mời của Thủ tướng Bỉ Bart De Wever, được kỳ vọng mở thêm những hướng hợp tác mới, nhất là trong logistics, công nghệ, năng lượng, nông nghiệp và đổi mới sáng tạo.

Eo biển Hormuz có nguy cơ mất dần vai trò chiến lược trong 5 năm tới
Làn sóng đầu tư vào hạ tầng vận tải và các tuyến đường xuất khẩu năng lượng thay thế tại Vùng Vịnh có thể làm giảm đáng kể sự phụ thuộc vào eo biển Hormuz, từng bước thay đổi mạng lưới logistics và thương mại năng lượng toàn cầu.






.jpg)